Từng bước chân đi hay câu chuyện về trekking Himalaya

Jetravel trích nhật ký trekking Hymalaya của Alfomega tại:

http://www8.ttvnol.com/forum/f_233/1000787/trang-1.ttvn

Đây là nơi tôi chia sẻ với các bạn về những chuyến đi của mình, những thứ tôi đã nghe, đã nhìn thấy, và cả những suy nghĩ lung tung nhiều khi cứ bám lấy mình theo từng bước chân đi.

Bắt đầu bằng chuyến đi Nepal vừa rồi, theo yêu cầu của anh chị em nhà Vivu.
——–

trekking-in-himalayas.jpg

Trekking ở Himalaya thì không nên đi một mình. Ai cũng biết thế. Sách viết thế và người cũng nói thế. Lý do thứ nhất là vùng này rất khắc nghiệt, đó hoàn toàn không phải là những cung đường bằng phẳng. Tôi biết là tôi sẽ đi lên mái nhà của thế giới (không phải nóc nhà nhé) với rất nhiều “ups and downs” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nên không thể chủ quan. Lý do thứ hai là chuyện an ninh: dù không đến mức như Iraq hay Afghanistan, nhưng Nepal vẫn đang bất ổn về chính trị, đặc biệt phiến quân Maoist luôn được Lonely Planet liệt vào mục “dangerous” khi đi du lich ở Nepal. Lý do thứ ba, rất hiển nhiên: không nên đi trong rừng một mình ở một nơi mà mình chưa hề biết gì về nó.

Tôi biết thế, và tôi không hề có ý định trek một mình, tôi không muốn mình là một thằng “ngố mà lỳ”, không muốn khi có “mệnh hệ” nào đó thì người ta lại bảo “ngu thì chết chứ bệnh tật gì!”. Nhưng mà, cuộc đời, nhiều khi… “hoàn cảnh nó xô đẩy”….

Có một điều, có thể sẽ là khó hiểu với nhiều người, nhưng tôi thấy mình không hợp lắm với những việc mà được ai đó sắp xếp hoặc hướng dẫn quá nhiều. Cho nên chuyện đi trekking có người hướng dẫn thực sự không hấp dẫn tôi lắm. Quan trọng hơn, cái cảm giác “không biết phía trước sẽ là cái gì” luôn là động lực cho đôi chân của tôi khởi hành và bước tiếp. Cái này nó giống như một bản năng, cái bản năng đã nhiều lần thắng được lý trí mà tặc lưỡi “cứ đi đi, chắc không chết đâu mà sợ”. Tôi biết là tôi hơi cực đoan trong chuyện này, nhưng vẫn không thay đổi được, và tôi đã phải trả giá cho cái sự bản năng đó.

Sau khi đã làm công tác tư tưởng cho mình, tôi đi tìm mua bản đồ. 450 rupee (khoảng 120 K đồng) thì được một cái bản đồ trekking tương đối chi tiết cho cung ABC (Annapurna Base Camp), cung này cần khoảng 20 ngày và sẽ lên đến độ cao gần 6000m. Nhưng tôi sẽ chỉ đủ thời gian thực hiện một phần hành trình đó. Tôi chon cung Poon Hill, cần khoảng 6-8 ngày và lên đến độ cao 3200m, đi theo một vòng khép kín, bắt đầu từ Naya Pul.

Balo cần được giới hạn ở mức 9kg, nên tôi phải gửi lại rất nhiều thứ, bao gồm một vật tưởng như bất khả ly thân của dân backpack, đó là cuốn Lonely Planet. Quần áo vải được bỏ lại gần hết, và thay bằng quần áo trekking, nhẹ và ấm. Túi ngủ ấm dù nặng nhưng vẫn bắt buộc phải mang. Cái máy ảnh + sạc pin nặng phải đến 700 g nhưng cũng được tha đi, lai ưu tiên cho nằm riêng trong cái balo nhỏ cùng với các loại giấy tờ quan trọng khác.

Buổi sáng thức dậy rất sớm, khi các phòng khác của quán trọ vẫn im ắng và chủ nhà còn chưa ngủ dậy, tôi cõng balo đi qua bên kia bờ hồ để kịp đến nơi xin giấy phép trekking. Trả 2,000 rupee và nộp 2 ảnh 3×4 thì tôi được cấp một giấy phép, và sẽ phải luôn giữ cái giấy này bên người để xuất trình sau này.

Có được giấy phép, tôi bắt xe bus đi Baglung, rồi từ Baglung, bắt xe khách đi Naya Pul, với một hy vọng lớn lao là sẽ gặp được những kẻ cùng hội cùng thuyền để mà đi cùng nhau qua những đoạn được ghi rõ trong bản đồ là “trekking in group recommended”. Đó là những đoạn thường xảy ra lở đất, những đoạn dễ lạc, có thể gặp cướp hoặc quân Maoist.

trekking-hymalaya11.jpg

Trong lúc ăn trưa ở Naya Pul, tôi gặp Nina, người Đức nhưng đang làm việc ở Tokyo, và Chandra, người Nepal, là guide kiêm porter cho Nina. Sau khi giúp Nina lập kế hoạch đi Viet-Lao-Cam trong 2 tuần, chúng tôi đã trở nên thân thiện rất nhanh và quyết định đi cùng nhau, vì Nina cũng trek cung Poon Hill giống tôi. Thật tốt là đã có những người bạn đồng hành, tôi cũng biết trước là dù thế nào mình cũng sẽ gặp, nếu không là họ thì sẽ là những người khác, nhưng không ngờ lại được gặp nhau sớm thế. Nhưng mà, cuộc đời lắm cái éo le…

Tôi hoàn thành bữa trưa của mình sớm hơn 2 người kia. Họ đến sau tôi, lại gọi món ăn Nepal nên chủ quán chuẩn bị hơi lâu, vì quán chỉ có mỗi cái bếp củi nhỏ xíu. Tôi đã “xỉa răng uống trà” xong xuôi rồi nhưng đồ ăn của Nina và Chandra vẫn chưa được mang ra. Tôi nghĩ tôi nên đi trước, vì tôi không có porter, balo khá nặng, lại la cà ảnh ọt nên chắc chắn sẽ đi chậm hơn. Ngày đầu tiên vẫn men theo các sườn núi và đồi trọc, có lẽ không nhất thiết phải đi theo nhóm. Hơn nữa, kiểu gì thì tối nay cũng sẽ gặp nhau ở Tinkherunka, là nơi nghỉ đêm của các trekkers. Tôi nói với họ như vậy, trả tiền rồi xốc balo đi. Ok, see you in Tinkherunka! Yep, see you.

Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân lên vùng Annapurna chính là những người porter. Họ là những người lùn nhưng có sức lực dẻo dai kinh hoàng. Không biết vì họ lùn nên làm porter tốt, hay vì làm porter lâu ngày khiến họ không cao lên được, nhưng họ có thể mang trên lưng một khối lượng khổng lồ và đi không mệt mỏi trên những triền núi giá lạnh hàng tháng trời. Balo, giường gấp, thức ăn ướp lạnh, nồi niêu xong chảo, bếp ga, gà vịt sống, bia rượu cho những chuyến đi dài ngày…họ cõng hết.

Đi khoảng 1h thì xuống thung lũng, qua một cây cầu treo thì gặp chốt kiểm soát đầu tiên. Người ta kiểm tra giấy phép của tôi, ghi lại những thông tin cá nhân, số hộ chiếu vào sổ, đóng dấu lên giấy phép rồi cho tôi đi. Bắt đầu leo dốc.

Đường đi ngày càng dốc, khung cảnh cũng không khác gì nhiều so với miền núi phía bắc của ta, cũng có ruộng bậc thang, suối và những ngôi nhà nhỏ ven đường. Nhưng khi đó tôi không gặp những người đi cũng chiều với mình nữa mà lại là những người đi xuống. Tôi nghĩ họ là những người đang trek theo cung khác nên cũng không suy nghĩ nhiều, vì thực ra các cung trekking trên dãy Himalaya thường có những đoạn đi chugn nhau một vài ngày, rồi lại tách ra.

Cho đến chiều muộn, khi hầu như không gặp người trên đường nữa thì tôi tạt vào một ngôi nhà nhỏ ngồi uông nước, tiên thể hỏi mấy giờ nữa thì đến được Tinkherunka, rồi giở bản đồ ra xem. Khi đó mới phát hiện ra mình đã đi sai đường, đáng ra phải rẽ trái ở sau trạm kiểm soát thì tôi đi thẳng. Người ta khuyên tôi không nên quay lại mà nên đi tiếp để đến Gandruk thì mới kịp nghỉ đêm. Vậy là tôi đã lạc mất những người bạn của mình, ttôi không tìm được ai khác để đi cùng nữa, cho đến tận mấy ngày sau mới gặp lại Nina và Chandra ở Gorepani.

Thế đấy, thật không pro chút nào, sai đường ngay từ chặng đầu tiên ! Nhưng thôi, ảnh ọt phát đã, dù sao thì cũng đã lạc rồi.

hymalaya_man.jpg

porter_hymalaya.jpg

Porter thì không dùng để cõng người, nhưng trong trường hợp này thì không thể khác được. Tại Pokhara, có rất nhiều người bị thương khi đi trekking phải nghỉ lại để điều trị.

Tôi thấy trước mặt mình là một người đàn ông. “Namaste! Listen to me please. I am a Maoist”. Úi giời ! Sao đoạn này lại có Maoist nhỉ? Sao bảo Maoist tập trung nhiều ở khu vực Chitwan cơ mà. Tôi nhìn sang bên cạnh, thấy dưới gốc cây có một cái bàn nhỏ, trên có một tập tickê và một số giấy tờ lặt vặt, và hai người nữa đang ngồi ở đó. Xa hơn môt chút ở dưới bờ suối là một túp lều nhỏ. Đó là một điểm thu tiền của những người Maoist, là một trong những thứ được xếp vào mục “Nguy hiểm và Phiền hà” khi đi du lịch ở Nepal.

Maoist, đúng như bạn nghĩ, là những người theo chủ nghĩa Mao (Trạch Đông). Họ là một nhóm nổi dậy, ngày càng lớn mạnh và đang kiểm soát nhiều vùng của Nepal. Họ cũng có chân trong chính phủ và là một đảng phải trong quốc hội Nepal. Địa bàn hoạt động chủ yếu ở vùng rừng núi sâu, nhất là khu vực vườn quốc gia Chitwan, nhưng họ đã từng tấn công phía tây thủ đô Kathmandu vào năm 2001. Họ thường dựng lên các chốt chặn khách du lịch lại và yêu cầu “donate” để phục vụ quân nổi dậy. Có rất nhiều điểm Maoist trên đường trekking trên dãy Himalaya cũng như các khu vực khác. Do đó, lời khuyên dành cho các trekker là hãy yêu cầu họ viết hoá đơn, giữ hoá đơn đó lại để giải thích với chặng sau rằng mình đã nộp tiền ở chặng trước rồi.

Họ là những người theo chủ nghĩa Mao Ze Dong, là những người cộng sản nên họ cũng có những đặc điểm chung của những người cộng sản, nhưng là những người cộng sản kiểu Nepal. Kinh nghiệm của tôi cho thấy trong những trường hợp như thế này thì không nên hoảng sợ. Dù sao thì cũng đã gặp nhau rồi, vậy nên cứ nói chuyện chút đã.

Anh thanh niên đang giải thích với tôi về lý do họ phải thu tiền của du khách, rằng chính phủ Nepal hiện thời rất yếu kém, tham nhũng, không lo nổi cuộc sống cho dân, nên họ muốn đứng lên, đấu tranh, để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân,… bla bla bla…

Đến đây có lẽ phải giải thích thêm một chút, rằng đúng là chính phủ Nepal hiện thời yếu kém thật. Cứ nhìn cuộc sống ở đây thì biết, ở nông thôn cũng như ở thành phố, cuộc sống cứ diễn ra một cách lộn xộn và thiếu thốn, không thấy bong dáng chính phủ đâu, điện và nước sạch thiếu trầm trọng, rác tràn ngập đường phố mà không có người quét. Cái cảnh những chiếc xe cũ nát tắc thành hàng trên những con đường trung tâm thủ đô đầy ổ gà, bụi mù và gập ghềnh đá cuội luôn mang đến một cảm giác tắc đường rất lạ . Tôi cũng thấy rằng chính phủ nước này cần phải làm việc nhiều và làm tốt hơn nữa vì người dân của họ.

Quay trở lại với anh chàng Maoist đang yêu cầu tôi nộp tiền. Anh ta nói rất say sưa với tôi rằng anh đã học xong trường Y, làm bác sĩ trong phòng thí nghiệm được 3 năm, nhưng vì chính phủ không lo nổi cuộc sống cho dân, lương quá thấp không đủ sống nên anh ta phải tình nguyện làm việc cho quân nổi dậy, và anh đã làm cái công việc chặn đường thu tiền này đã 2 năm nay. Khi biết tôi cũng học y thì anh ta lại càng sôi nổi hơn. Anh ta hỏi tôi đang học năm thứ mấy? (cái kiểu nhìn mặt đoán tuổi đây mà). Tôi vờ như không nghe thấy và không trả lời câu hỏi đó. Chẳng dại gì mà khai mình đã ra trường, vì tôi biết sinh viên thì vẫn được ưu tiên hơn, nhất là trong những chuyện tiền nong như thế này.

Rồi anh ta hỏi tôi từ đâu đến. Tôi nói Việt Nam. Anh ta kêu lên “Ah Việt Nam ! Big country, đang có chiến tranh, chính phủ đã giết chết 2 triệu người!” (Chúa ơi, anh này học về cộng sản mà lại chẳng hiểu gì về tình hình Việt Nam). Tôi bảo chiến tranh ở Việt Nam kết thúc cách đây hơn 30 năm rồi, và đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ, không phải chống chính phủ như cuộc chiến mà anh đang tham gia. Tôi cũng nói con số 2 triệu người chết, nếu có thì chắc là thiệt hại của cả hai bên (thú thực là tôi không giỏi cái vụ này lắm nên nói đại loại vậy).

Tôi hỏi anh ta có phải là người cộng sản không (không hiểu sao lúc đó tôi lại phân biệt giữa Maoist và cộng sản). Anh ta bảo đúng, anh ta là người cộng sản, đã đọc nhiều sách về Maoist và về chủ nghĩa cộng sản. Rồi anh ta hỏi tôi là người Việt Nam thì chắc cũng là người cộng sản. Tôi bảo ừ. Thực ra cái ừ này của tôi là hoàn toàn phạm pháp, và nó được phọt ra vì một lợi ích vật chất trước mắt mà chút nữa các bạn sẽ hiểu. Anh ta hỏi tôi có thích Che Guevara không? Đến đây thì chính tôi cũng trở lên hào hứng không kém, vì đúng là tôi thích Che thật. Anh ta lại say sưa rằng Che cũng học Y, cũng là một người cộng sản (nhưng vẫn còn quên chưa nói Che cũng rất thích ảnh ọt và là một tay phượt có hạng). Anh ta thần tượng Che và đã đọc rất nhiều sách về Che (anh này suốt ngày khoe đọc nhiều sách). Tôi hỏi anh đã xem “Motocycle Diary” chưa? Anh ta nói chưa. Tôi bảo đó là bộ phim về hành trình xuyên Nam Mỹ của Che, nếu anh thích Che thì nên tìm xem phim ấy (tiện thể hỏi luôn các bạn đã xem phim ấy chưa, nếu chưa thì nên xem, bạn sẽ thấy cái chuyện lượt phượt bằng xe máy của mình thú vị hơn nhiều)

Trong cơn phấn khích, anh ta nói “ok, vì tôi với anh cũng học Y, nên tôi discount cho anh 100 rupees, anh nộp cho tôi 300”. Haha. Cái này tự anh nói đấy nhá. Hay quá rồi. Nhưng mà, anh đã cho tôi voi thì tại sao tôi lại không đòi thêm hai Bà Trưng nhỉ, cái tính tham lam bỗng nhiên ngóc đầu dậy. Tôi bảo “300 nhiều quá, discount thêm đi. Thế này nhé, 100 vì tôi với anh cùng học Y, 100 nữa vì tôi với anh cùng là những người cộng sản. I’ll give you 200”. Anh ta bỗng trở lên nghiêm túc, đặt bàn tay lên ngực và nói ‘my friend, you come to my country, I respect you, but I also have rules, to follow”. Vẻ mặt anh ta thành thực lắm. Có lẽ đành chịu thôi. Tôi cầm quyển ticke lật qua lật lại xem những người trước nộp bao nhiêu. Đúng là họ nộp nhiều hơn tôi thật.

Tôi nộp cho người phụ đang ngồi ở bàn 300 rupees, không quên lấy hoá đơn như đã được khuyến nghị. Anh ta còn cẩn thận ghi tên và email vào mặt sau của tờ phiếu rồi mới đưa cho tôi, “để sau này chúng ta lien lạc”. Lại còn tặng tôi một tờ giấy gì đó có rất nhiều chữ ký ở mặt sau, nói rằng dù nó hơi bẩn nhưng là tờ cuối cùng và mong tôi thông cảm, tôi chưa có thời gian đọc lại tờ giấy đó nhưng chắc là rất hay ho, và chỉ dành cho những người thực sự là “đồng chí” của nhau. Tôi nhận mảnh giấy, hoá đơn, đút vào bụng rồi đi tiếp.


Không chịu nộp tiền à? Cứ nhìn gương thằng Thuỵ sĩ này này. May mà mình gặp được chú Maoist vui tính.

monist_kathmandu.jpg

monist_kathmandu2.jpg

monist_kathmandu3.jpg

Phía trước tôi lúc này là hai lối đi. Một lối dốc cao, có một vài ngôi nhà nhỏ ơ cách đó chừng vài trăm mét trên đỉnh dốc. Một con đường mòn, bằng phẳng chạy men theo sườn núi mà tôi đang ở giữa lưng chừng. Đi đường nào đây? xung quanh không có ai, mà đôi chân thì mệt mỏi quá rồi. Đây là lúc mà bạn phải ra quyết định. Đây là lúc bạn thực sự cần một người làm guide. Có thể bạn sẽ nghĩ sự việc chẳng đến mức phức tạp thế, cứ đi thử, không đúng thì quay lại. Nhưng hãy tưởng tượng, bạn đã leo núi cả ngày rồi, sức đã xuống nhiều rồi, và bây giờ cần tìm ra đúng đường để kịp đến chỗ ngủ đêm trước khi trời tối. Nếu đi thử thì ít nhất là phải leo được đến mấy cái nhà kia mới biết được có sai đường hay không. Người ta hay nói …….đứng ở ngã ba đường là thế này đây. Uhm, con đường bằng phẳng kia, trông thật khêu gợi, ít nhất là với đôi chân mệt mỏi của tôi.

Nếu phải quyết định thì tôi sẽ leo tiếp con dốc trước mặt, vì cái nhà nhỏ trên kia có sẽ là một tea house, và như thế cũng logic hơn vì ngày hôm nay vẫn là ngày leo lên. Kinh nghiệm mà tôi có được từ việc đọc chuyện cổ tích cho thấy, con đường bằng phẳng nom quyến rũ thế thôi nhưng rất có thể lại là một con đường chết. Hầu hết những người đi tìm kho báu mà chọn con đường thênh thang, có nhiều hoa thơm cỏ lạ thì cuối cùng đều gặp tòa lâu đài có một bà phù thủy độc ác.

Thật y như chuyện cổ tích, khi tôi bỗng phát hiện ra một cây đào nở đầy hoa ở phía con đường bằng phẳng. Thật khêu gợi ! Cái máy ảnh trong balo trước ngực bỗng cựa quậy. Tôi tặc lưỡi, dù sao thì cũng cứ bắn vài phát đã, có phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy hoa đào trong mùa đông đâu. Tôi đi về phía cây đào, trên con đường bằng phẳng, và nghe thấy đôi chân của mình … cười đểu. Đến nơi, tôi lại thấy có mấy đứa trẻ con đang dắt theo một con dê ở dưới sườn núi. Tôi gọi “Hey ! Hey !”. Bon trẻ nghe tiếng gọi thì chạy lao lên, mang theo cả con dê có một sợi dây buộc ở cổ. Mấy đứa trẻ này bé tí nhưng mặt rất lanh lợi. Sau khi để cho tôi chụp vài kiểu bọn nó dưới gốc đào, chúng bắt đầu đi quanh cái balo của tôi và ngó nghiêng. Khi phát hiện ra có gói bánh bích quy ở túi ngoài thì chúng ra hiệu xin bánh. Tôi cho mỗi đứa một cái, nhưng bẻ làm đôi (rất xin lỗi vì không thể cho nhiều hơn được, tôi sẽ giải thích sau)

Ăn bánh xong, chúng lại ra hiệu xem mấy cái ảnh vừa chụp, miệng kêu si si, tay chỉ chỉ. Và khi tôi vừa hạ thấp cái máy ảnh xuống thì một đứa đã giơ tay che bớt ánh sáng lại để nhìn màn hình được rõ hơn. Wow! Thật điệu nghệ. Bọn này có vẻ rất thông thạo và có kinh nghiệm với mấy thứ này. Điều đó làm tôi nảy ra ý định hỏi đường. Các cụ bảo, ra đường hỏi già…, nhưng mà ở đây không có ai, thôi thì cứ hỏi bừa. Biết đâu Chúa lại thương tôi trong luc tiến thoái lưỡng nan này, mà lại cử xuống vài thiên thần hộ mệnh?

Tôi chỉ tay về phía con đường dốc và nói “Gandruk?”, ý nói đi Gandruk đường đó phải không. Một đứa nhanh nhẹn nhất trong nhóm liền chỉ tay vào con đường bằng phẳng chạy men theo sườn núi nơi chúng tôi đang đứng. Really? Điều đó là sự thật sao? Tôi được bước tiếp trên con đường bằng phẳng này thật sao? Mọi sự mệt mỏi tự dưng chạy đâu hết….Nhưng để cho chắc ăn tôi lại chỉ tay về phía con đường dốc và nói “Gandruk?”, rồi xốc balo bước về phía đó. Bon trẻ kéo tay tôi lại, miệng kêu “no!”. Ôi, cái “no” của bọn nó quả quyết lắm (I love that No). Có lẽ chúng nó không nhầm. Có lẽ tôi được bước tiếp trên con đường bằng phẳng này thật. Tôi thầm cảm ơn chúa vì đã mang xuống đây mấy thiên thần thích ăn bánh bích quy này, mà chỉ đường cho tôi đi Gandruk.

Tôi xốc lại balo, vẫy tay tạm biệt bon trẻ rồi bước tiếp. Sau bao nhiêu đoạn leo dốc dài, lên rồi lại xuống, thì một đoạn đường bằng phẳng có giá trị như một chầu mát xa buổi tối. Đôi chân bon bon trong ánh mặt trời buổi chiều, được khoảng 20 phút, cho đến khi trước mặt mình lại là một con dốc khác, dựng đứng.

trecon_kathmandu2.jpg
nguoigia_kathmandu.jpg
cau_nepal.jpg
cau_nepal.jpg

Theo tính toán của tôi thì tối hôm đó Nina và Chandra sẽ đến Gorepani, và tôi quyết tâm sẽ đến được Gorepani trong ngày hôm đó, để ngày hôm sau cùng nhau lên Poon Hill. Sau mấy ngày lặn lội một mình, chẳng có ai để nói chuyện theo đúng nghĩa, tôi thực sự cần có những người bạn bên cạnh. Tuy nhiên, cái sự quyết tâm này có thể gọi là một sự “nhiệt tình cách mạng” quá mức cần thiết, gần như mù quáng. Hậu quả là tôi đã phải trải qua những cảm giác …mà tôi chưa từng gặp trong những chuyến đi trước đó: Cảm giác sợ hãi.

Khoảng đầu giờ chiều, sau khi hoàn thành việc leo qua một đỉnh núi rất cao, tôi bắt đầu đi xuống khe núi, rồi qua một chiếc cầu nhỏ làm bằng gỗ bắc qua suối, rồi lại bắt đầu vượt một đỉnh núi tiếp theo. Khi leo được khoảng 200m thì tôi bỗng thấy tiếng lộp bộp khắp nơi. Mưa rào? Chết cha, tôi không mang áo mưa, chỉ có cái túi bọc balo, còn áo mưa cho người thì không có. Mọi người nói mùa này là mùa khô, không có mưa nên tôi không mang theo áo che mưa. Nhìn xung quanh không thấy có một cái hốc nào để mình có thể chui vào, mà chắc chắn là tôi không thể tiếp tục leo lên trong lúc trời mưa được. Tôi vội chạy quay lại chỗ cái cầu, tính là sẽ chui xuông gầm cầu để tránh mưa, vì dù sao đó cũng là chỗ duy nhất có mấy mảnh gỗ lớn che trên đầu, và nước suối khá cạn.

Khi đến gần cái cầu, tôi mới định thần nhìn lại thì thấy quần áo mình không ướt. Lạ quá. Trong khi xung quanh, trên mũ, sau balo, trên tán lá, chỗ nào cũng cứ lộp bộp ngày một to. Thì ra là mưa đá. Từng cục đá to bằng hạt đỗ xanh đang thi nhau rơi lên đầu, lăn xuống balo rồi lăn xuống đất. Thú vị thật, lần đầu tiên tôi thấy mưa đá. Tôi không chui xuống gầm cầu nữa, mà cứ đứng như vậy ở giữa đường, mặc cho những viên đá nhỏ rơi khắp nơi. Lúc đó thực sự là tôi không biết làm gì. Không thể quay lại, vì tôi đã biết chỗ có ngườI ở cách đó rất xa. Tôi cũng không biết sau mưa đá sẽ là cái gì. Có thể là mưa rào. Rồi sau đó có thể là nước lũ sẽ từ trên núi đổ về, rồi nước sẽ dâng lên và cái cầu này cũng không thể làm chỗ trú chân được nữa. Tôi không biết phải làm gì nên cứ đứng đó, xung quanh chẳng có ai, những ngôi nhà tôi đã đi qua từ lúc 9-10 giờ sáng, giờ chắc đã xa lắm rồi. …Trong hoàn cảnh đó, tôi bỗng nhớ ra là mình cần phải… chụp ảnh, dù gì thì cũng phải ghi lại mấy cái cảnh ấn tượng mày mới được. Vừa thấy lo lại vừa thấy vui- cái cảm giác này ít khi có được trong đời.

Ảnh ọt các kiểu xong, thì tôi thấy tình hình mưa có vẻ dịu đi. Hạt đá ngày càng nhỏ, tiếng lộp bộp cũng ngày càng nhỏ đi. Khi mặt đường được phủ một lớp trắng như muối thì cũng là lúc tôi nhận ra tuyết đang rơi. Đúng. Tuyết đang rơi. Mẹ ơi, chắc chắn đây là tuyết rơi. Con đã nhìn thấy tuyết rơi trên ti vi rồi, giống y như thế này. Càng ngày hạt tuyết càng nhẹ và bắt đầu bay xiên xiên, giống như kiểu mưa phùn ở nhà mình.

Tôi thấy phấn chấn hẳn lên, và quyết định leo tiếp ngọn núi trước mặt. Vì tôi biết là sau tuyết rơi thì cùng lắm là đóng băng, như vậy cũng vẫn an toàn.

Thật không ngờ là mình lại gặp được ngày có tuyết. Trước khi đi trekking, tôi đã hỏi thăm rất nhiều ở các đại lý du lịch cũng như những người vừa đi trekking trở về, mọi người đều nói nếu muốn đến được “snow line” thì phải đi cung Annapurna Base Camp, sẽ gặp vùng có tuyết rơi khi lên đến độ cao gần 5000 m. Nhưng tôi không có đủ thời gian để hoàn thành cung đường đó, vì phải cần đến 20 ngày. Thôi thì mình có 6 ngày, cố bò lên đến Poon Hill và từ đó ngắm dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ trắng xóa ở ngay trước mặt cũng được. Nhưng thật là quá sức mong đợi, không thể tin được, tuyết đang bay đầy quanh mình, đậu thành lớp trắng xoá trên balo. Tôi vừa leo, vừa thè lưỡi thật dài để những bông tuyết đậu trên lưỡi rồi sau đó tan ra.

Khi tôi lên đến đỉnh núi và bắt đầu đi xuống thì con đường dưới chân tuyết đã phủ dày đến 5 cm, tất cả cây cối đều được phủ một màu trắng xoá, không nhìn thấy đất đá đâu nữa rồi, mặt đất bỗng trở lên sạch sẽ và tinh khôi. Mọi thứ đều được khoác một chiếc áo màu trắng, trắng như tuyết.

Tự dưng tôi nghĩ, nếu kiếm đâu ra một ít máu mà nhỏ xuống bây giờ thì thật tuyệt, sẽ rất ấn tượng, màu đỏ của máu sẽ ngấm dần vào tuyết trắng, giống y như trong phim Thập diện mai phục. Nhưng ở đó chẳng có ai bị thổ huyết.

tuyetroi.jpg
tuyet2.jpg
tuyet3.jpg

Khoảng 4 rưỡi chiều thì tôi gặp một ngôi làng. Giở bản đồ ra xem thì biết đó là Ledapani, một làng nhỏ, có khoảng chục nóc nhà, nhưng cũng là nơi nghỉ chân của các trekker. Lúc đó thì tuyết đã dày lắm rồi, trời về chiều nên nhiệt độ càng xuống thấp. Tôi ghé vào một ngôi nhà, người lạnh run (cứ đứng lại là thấy lạnh), giũ sạch tuyết trên người và đến ngồi gần lò sưởi. Tôi bảo chủ nhà làm cho một cốc “chai” (làm bằng chè nấu với sữa trâu).

Người ta bảo tôi nên ở lại, sang mai hãy đi Gorepani, vì trời sẽ tối rất nhanh sau khoảng 1 giờ nữa. Tôi hỏi còn bao lâu nữa thì đến Gorepani, họ bảo khoảng 2,5 giờ nữa. Tôi hỏi đi lên hay đi xuống. Họ bảo leo lên một đoạn, đi đường bằng một đoạn, sau đó đi xuống. Tôi nghĩ chắc họ muốn tôi nghỉ lại nhà họ nên mới nói thế, chứ chắc là không đến 2,5 tiếng nữa đâu, hơn nữa chỉ phải leo lên một đoạn, còn sau đó là đường bằng và đi xuống nên chắc là mình đi “vô tư”. Với lại, tôi đã quyết sẽ đến được đó tối nay, hy vọng sẽ gặp lại mấy người kia. Tôi uống xong cốc “chai”, rồi đi tiếp, mấy người chủ nhà nhìn theo vẻ ái ngại.

Nhưng tôi đã sai, họ luôn là những người thật thà mà tôi không nhận ra. Thậm chí họ đã quá thật thà, đến mức “thấy sao nói vậy”. Có nghĩa là họ đã không tính đến sự khác nhau giữa khả năng leo của tôi và của họ, không tính đến chiếc balo trĩu trên lưng, không biết rằng tôi đã leo núi cả ngày, gần như đã hết sức, nên họ mới trả lời là “2,5 giờ”. Nhưng thực tế là tôi đã phải lặn lội hơn 4 giờ đồng nữa mới đến được Gorepani vào lúc gần 10 giờ đêm.

Quãng đường đó thực sự đã cho tôi biết thế nào là cảm giác sợ hãi, nhưng tôi sẽ kể sau, bây giờ thì cứ vui tươi với tuyết cái đã

tuyet_nepal1.jpg
Pokhara được thế giới biết đến bắt đầu từ những năm 70s, khi những người Mỹ sống cuộc đời hippy lang thang đến đây. Thế nên, bây giờ người ta đến Pokhara vẫn muốn tìm lại cái không khí hippy ngày xưa, bằng cách khoác lên mình những bộ quần áo cực kỳ luộm nhuộm, để những kiểu đầu lù xù, và lười nhác lê những đôi dép lẹt bẹt hoặc thậm chí là chân trần đi khắp các ngõ ngách của thành phố.

Cuộc sống ở đây rất… chậm. Hầu hết du khách đến Pokhara đều là những người lượt phà lượt phượt, họ đi lại chậm chạp, ngồi dựa dẫm trên hè phố hoặc nằm bò ra bãi cỏ một cách lười nhác. Họ rong chơi la cà và có vẻ không quan tâm đến thời gian. Họ đang lê la trong hành trình xuyên châu Á kéo dài hang năm trời. Từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, dù đi theo hướng nào thì họ cũng phải dừng lại ở Phokhara. Đó vừa là nơi nghỉ chân cuối cùng dưới chân dãy Himalaya, vừa là nơi dưỡng sức sau những ngày leo núi mệt nhọc và giá rét. Đối với những kẻ đã lang thang qua các thành phố bụi bặm và ầm ĩ của Ấn Độ, khi qua khỏi biên giới mà đến Pokhara, thì họ đã ở vào một thế giới khác. Những phiền hà mang màu sắc Hindu giờ đã không còn, thay vào đó là sự bình yên phật giáo có ở khắp mọi nơi. Những căng thẳng vì phải đối phó với sự tinh ranh của người Ấn cũng được gột rửa, mọi thứ trong con người đều như giãn ra, chùng xuống. Vì thế, họ ở lại Pokhara lâu hơnBuổi chiều, khi mặt trời hắt những tia sang cuối cùng của mình xuống dãy Annapurna hung vĩ, khi mặt hồ Phewa thanh bình chuyển sang màu tím sẫm, khi mùi hương trầm từ những ngôi nhà màu đỏ gạch theo gió bay dọc đường phố, khi những bản nhạc có giai điệu đều đều như cầu kinh phát ra từ các cửa hàng bán băng đĩa, thì cũng là lúc từng đoàn người uể oải đạp xe trở về sau một ngày lang thang trong những ngôi chùa hoặc làng mạc ở ngoại ô.

Khi trời tối hẳn thì nhiệt độ xuống rất thấp, thành phố hầu như không còn một tiếng động, chỉ có tiếng thì thầm trò chuyện và tiếng củi cháy tanh tách trong lò sưởi. Người ta ngồi sưởi ấm, ăn những món steak, uống rượu ấm và nói chuyện nhẹ nhàng trong một một không gian rất tĩnh mịch. Chín giờ tối, thành phố đã đi ngủ.

Buổi sáng thì ngược lại, có rất nhiều người dậy sớm, cả du khách và người địa phương. Phụ nữ đi thành từng đoàn đến các bể nước công cộng để lấy nước vào những chiếc bình cổ dài, rồi đội lên đầu và lại xếp hang đi về nhà. Dù là thành phố lớn thứ nhì của Nepal, nhưng Pokhara vẫn chưa có nước máy đến từng nhà, hầu hết các gia đình đều dung nước giếng khoan. Trước khi mang nước về nhà, người nào cũng lấy một ít nước và tự vẩy lên tóc và quần áo của mình, có vẻ như đó là một nghi lễ tôn giáo, hoặc là để cầu may.

Khách du lịch dậy sớm vì hai lý do. Thứ nhất, tất cả các chuyến xe bus du lịch đều xuất phát cùng lúc vào 7 gìơ sáng, nên từ sáng sớm đã thấy từng đám người lục tục cõng balo ra bến xe ở phía bên kia bờ hồ. Lý do thứ hai dành cho những người ở lại: đó là đi chụp cảnh bình minh bên bờ hồ Phewa. Khi đó, dãy Annapurna với một ít ánh sáng mỏng manh trên các đỉnh núi của mình, nhưng trong lúc trời còn mờ tối, nó đủ sức phản chiếu xuống mặt hồ phẳng lặng, tạo lên một khung cảnh lung linh đã thu hút không biết bao tay máy chuyên nghiệp từ khắp nơi trên thế giới.

Trong những ngày ở đây, sáng nào tôi cũng dậy sớm, chạy qua phía Dam Side, đến một tòa nhà dạng như Sở Công an của thành phố, đập đập vào cánh cổng sắt để gọi người gác cổng. Lần nào cũng vậy, và với ai cũng thế, họ đều rất vui vẻ chui ra khỏi bốt gác, mở cổng và dẫn khách đến phía sau tòa nhà, sát mép bờ hồ. Đó là điểm mà ai cũng muốn đến để có được những tấm ảnh ưng ý.

Với những thời khắc khác nhau, tôi có được những màu sắc khác nhau

ho_phewa.jpg

laynuoc_nepal.jpg

chupanh_nepal.jpg

Đồ ăn ở Nepal có vẻ không phong phú lắm. Lần nào gọi món ăn Nepal cũng thấy mang ra một cái khay lớn, trong có khoảng 6-7 cái khay nhỏ đựng thức ăn + cơm nguội + dưa chuột + củ cái thái lát. Thức ăn đựng trong những chiếc khay nhỏ bao giờ cũng có khoai tây ninh với măng và cary, thịt gà hầm carry, nước sốt cary, rau xào cary, súp đậu xanh với cary, và một khay sữa chua.

Điểm nổi bật về thức ăn của Nepal và nhiều nước Nam Á khác đó là sự tràn ngập và thống trị của cary và hành củ sống. Cái mùi vị đó có thể dung để phân biệt hơi thở của người Nepal với những người nước ngoài nom giống người Nepal. Cá nhân tôi thấy ăn đồ ăn Nepal thì sẽ làm cho quá trình “thông hơi” của hệ thống tiêu hoá diễn ra ồn ào và lộ liễu hơn…. (Giống y như mô tả trong Since came along Polly)


Nếu bạn gọi một Nepal set food và bạn có thể chiến đấu hết chỗ thức ăn đó thì cơ thể bạn sẽ có một lượng calo rất lớn, lớn hơn nhiều so với suất ăn thông thường của người Việt Nam. Người Việt thường ăn nhiều rau, có đến mấy món rau trong một bữa ăn, nhưng người Nepal thì ăn nhiều tinh bột. Hầu như món nào cũng có tinh bột, các gia vị cuả họ cũng chủ yếu làm bằng tinh bột, hoặc các loại hạt xay nhỏ, thay vì các loại cây và lá như gia vị của ta.

Người Việt điển hình thì bao giờ cũng có rất nhiều mì gói trong vali trong những chuyến công tác ở Nam Á. Tôi thì có thể ăn được đồ ăn Nepal cũng như đồ continental vốn được chuẩn bị để vừa mồm mọi loại khách từ khắp các châu lục. Hơn nữa, đã làm dân balo thì phải học khả năng thích ứng với đồ ăn địa phương. Việc để trải nghiệm chỉ là một phần, phần còn lại, lớn hơn nhiều, là để tiết kiệm tiền. Thường thì đồ ăn địa phương bao giờ cũng rẻ hơn đồ ăn quốc tế (may ra ở Nhật Bản thì khác?)

Có một kinh nghiệm để thưởng thức những món ăn địa phương, đó là: cần có một tâm lý vui vẻ và thiện chí trước khi cầm đũa (hoặc bất cứ dụng cụ gì người ta mang ra). Nói cách khác, cần phải nghĩ là món đó sẽ rất ngon, và nếu có nhiều người cùng ăn thì mọi người nên khen động viên nhau rằng “ngon quá ngon quá !”.

Khi một món ăn được mang ra, cần phải bình tĩnh, nếu thấy mùi của nó hơi lạ thì cũng đừng quá hốt hoảng, hoặc vội nhăn mặt đẩy ra. Hãy nghĩ thế này: 1. đó là một đồ ăn sạch, không chết người, thậm chí nếu đang ở trong nhà hang thì bạn nên nghĩ đến cái giá đắt đỏ của nó nữa, 2. thức ăn này đã nuôi sống hang triệu người ở đất nước này, và hang ngày hang giờ họ vẫn đang thưởng thức món ăn ấy. Vậy tại sao ta không bình tĩnh mà đón nhận nó với một sự hăm hở nhiều khi bắt buộc là giả tạo? Rất có thể bạn sẽ thấy món ăn đó … thật tuyệt, hoặc ít hơn là … cũng không đến nỗi nào, hay bét nhất thì cũng là… ăn được, chống đói.

Với một thái độ như vậy, tôi đã chiến đấu với đồ ăn Nepal trong mấy ngày đầu, khi làm việc cùng những người khác. Ba ngày ăn đồ ăn Nam Á có lẽ phải được coi là một thành tích đáng tự hào đối với một người nghiện đồ ăn Việt như tôi. Mặc dù tôi luôn có một “thái độ thân thiện” với thức ăn ở đây, nhưng quả thực ba ngày dường như đã là quá sức chịu đựng. Sang ngày thứ tư, khi tôi bắt đầu chuyến đi bụi của mình thì việc đầu tiên là đi tìm mấy thứ ăn gần gần với đồ ăn Việt nhất: trứng gà luộc và dưa chuột thái lát.

Bi kịch xảy ra với tôi là vào cái hôm tôi phải lặn lội trong rừng đến gần nửa đêm. Khi đến được chỗ ngủ, tôi bắt đầu thấy buồn nôn. Nhưng tôi nghĩ dù gì thì cũng phải ăn, phải cố ăn nhiều nữa là khác, để bù lại cho cả ngày leo núi lạnh cóng và chỉ ăn vài thứ vớ vẩn. Đó là lúc bi kịch mang tên Đồ ăn Nepal bắt đầu.

Đầu tiên tôi gọi một bát súp gà. Chà, tôi đã tưởng tượng ra một bát súp nóng với vị thịt gà ngọt đậm đà (đúng hơn là khi đó tôi nghĩ đến món cháo gà mẹ thường nấu ở nhà). Món này thật phù hợp với cái dạ dày lạnh lẽo và rỗng tuếch của tôi. Nhưng khi bát súp được mang ra, tôi không thấy có vẻ gì là giống cháo cả.

Đó là một bát sữa trắng toát, không thấy có mùi gừng mà là mùi cary, và khi tôi dung thìa khuấy khuấy thì thấy những miếng thịt gà nhỏ bằng đầu ngón tay út nằm lăn lộn dưới đáy. Vậy là mơ ước về món thịt gà ninh nhừ của tôi đã không thành hiện thực, tệ hơn nữa, nước dung làm bằng sữa và ngọt như đường. Hãy tưởng tượng, thịt gà nấu với sữa trâu, cho thêm đường và cary !

Nhưng khi đó tôi không còn đủ sức để phàn nàn hay giải thích gì thêm, tôi lại cầm tờ menu và gọi Chandra lại. Tôi nói rằng tôi cần ăn một cái gì đó giống như súp, nhưng không có sữa, không ngọt và không có cary. Anh ta chạy và bếp, giải thích với họ rồi chạy ra nói tôi nên gọi súp rau. OK, tôi nói vậy và yêu cầu thêm một đĩa khoai tây rán vì tôi thấy menu có món đó.

Súp rau vẫn được nấu với sữa và vẫn ngọt.

Có lẽ khái niệm “không ngọt” của tôi khác với của người Nepal? và chuyện súp được nấu với sữa đã được mặc định từ hang ngàn năm trước?

Chưa hết, món khoai tây rán mà tôi cứ tưởng là french fries ấy thực ra là khoai tây luộc lên rồi được xào với cary. Tôi bất lực nhìn 3 bát thức ăn trước mặt.

Làm ơn đi, đừng thử thách tôi nhiều thế. Nếu là lúc khoẻ thì tôi có thể vận dụng lý thuyết “thái độ thiện chí” để mà cố tống mấy thứ này vào mồm, nhưng mà bây giờ tôi đang yếu, đang rất mệt, lại còn buồn nôn nữa. Chandra và Nina nhìn tôi ái ngại. Tôi cố làm ra vẻ ok để không ảnh hưởng đến mọi người, vì lúc đó người ta bắt đầu nhảy nhót quanh lò sưởi theo những giai điệu của vùng núi Himalaya. Tôi ngồi tựa vào tường nhà, xua tay xin lỗi vì không còn sức để tham gia.

Sau cùng thì vị cứu tinh của tôi cũng xuất hiện. Ban đầu là một cốc trà gừng. Sau đó là những quả trứng gà luộc nóng hổi. Thật may là trứng gà luộc Nepal cũng giống y như trứng gà luộc ở Việt Nam (có chăng chỉ là lâu chín hơn một chút). Sau khi chiến đấu hết 5 quả trứng gà luộc chấm muối, tôi đã thấy bụng dạ vững vàng hơn, tay chân bắt đầu cựa quậy theo điệu nhạc lúc đó đã chuyển sang bài Macarenna…

Đến đây, có lẽ tôi phải dừng lại và im lặng mấy phút để cảm ơn… những con gà mái. Hôm đó và những ngày sau đó cũng thế, nếu không có món trứng gà luộc thì tôi cũng không rõ mình sẽ xoay sở thế nào để về được đến Pokhara.

Thanks chics!

5 phản hồi to “Từng bước chân đi hay câu chuyện về trekking Himalaya”

  1. le anh tuan Says:

    Chao ban,
    minh cung da tung di nhieu noi, cambodia, australia, hongkong, thailand, malay, sin, nhung nepal qua la noi ma minh muon den it nhat mot lan trong doi,
    nhu ban biet, van de quan trong nhat doi voi backpacker la lonely planet guide book va kinh nghiem, nhat la doi voi kinh nghiem thuc te nhu ban, minh rat muon lam mot chuyen di nhu ban vao thang 7, hy vong ban chia se cho minh nhe.
    cam on ban nhieu.

  2. N. Says:

    Thật là lý thú, đáng lẽ ra vào cuối tháng 8 tôi và người bạn hướng đến Hy Mã Lạp Sơn, nhưng tuyến đường vào đến Tây Tạng có lẽ khó hơn xưa rồi, đành đổi plan đi nơi khác.

  3. clh Says:

    Rất cảm ơn bài viết của bạn (rất dí dỏm và cuốn hút). Tôi rất muốn một lần được đến Nepal, nhưng không nghĩ là mình có đủ sức. Nay đọc bài của bạn, thật sự là lòng “ham muốn” của mình double lên rồi. Tôi không nghĩ là bạn sẽ làm thêm một chuyến Nepal và muốn có bạn đồng hành, nhưng tôi vẫn để lại địa chỉ, và hy vọng sẽ được làm bạn đồng hành của bạn, nếu có cơ hội.

    Cảm ơn và trông tin.

  4. am Says:

    Các bạn muốn đọc đầy đủ về hành trình này + xem ảnh thì có thể xem link sau:

    http://www9.ttvnol.com/f_233/1000787.ttvn

    Nếu muốn hỏi kinh nghiệm thì có thể sms cho tác giả.

  5. Lucy Says:

    hành trình của bạn thật là đồ sộ. mình sẽ cố gắng xây dựng và tích lũy kiến thức nhiều như vầy.
    thanks for sharing.
    http://dulichbuithailan.biz/


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: